Có lẽ, với một học sinh lớp 11 – một suy nghĩ chưa thật sự chín chắn nhưng cũng không còn quá trẻ con – như tôi, thật khó để bày tỏ hết những suy nghĩ, những ấn tượng và cả những niềm tự hào về Hoằng Hóa II, về nơi mà bấy lâu chúng tôi vẫn gọi là “nhà”. Hoằng Hóa II – nơi lắng đọng lịch sử, Hoằng Hóa II – nơi chắp cánh tương lai và Hoằng Hóa II trong tôi – nơi “những người lái đò thầm lặng” đã và đang nỗ lực cống hiến hết mình cho biết bao thế hệ học sinh. Và hôm nay đây trong không khí hào hùng của một Hoằng Hóa II – 50 năm trưởng thành và phát triển, tôi bỗng nhớ tới một ngườ thầy quá cố, một “người lái đò” đã sống cả đời mình để đưa “thuyền” về đúng “bến”. Đó là thầy Hoàng Văn Thống – một hiệu phó cũ của trường Hoằng Hóa II.
Quê hương Hoằng Khánh, nơi thầy tôi đã sinh ra, lớn lên và sống cả đời mình cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, cũng chính là nơi tôi được sinh ra để hôm nay trở thành một học sinh của Hoằng Hóa II. Tôi, tuy chưa có may mắn được làm một học sinh ngồi trong những giờ giảng của thầy nhưng ấn tượng của tôi về thầy dường như rất sâu đậm. Đó là hình ảnh một người thầy ngày ngày dắt chiếc xe máy cũ ra cổng để chuẩn bị đến trường mà tôi hằng bắt gặp từ khi còn là một học sinh tiểu học. Ngày ấy, anh tôi học lớp 12A2, được thầy trực tiếp giảng dạy môn Hóa Học. Tôi nhớ như in những lần thầy ghé nhà tôi chơi, tận tình giảng bài cho anh tôi và động viên anh cố gắng học tập. Bấy giờ, tâm hồn non nớt của một đứa trẻ như tôi chỉ biết nhìn thầy bằng tất cả sự kính trọng và ngưỡng mộ của mình. Lớn hơn một chút, khi là một học sinh trung học cơ sở, tôi càng thêm ngưỡng mộ thầy qua những lời kể của thầy cô giáo từng là những học trò cũ của thầy. Đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ câu chuyện mà cô giáo dạy Văn ở trường cấp hai của tôi từng kể trong một giờ học ngoại khóa. Cô kể bằng tất cả niềm tự hào của mình rằng: “Cô có được như ngày hôm nay, được đứng trên bục giảng để truyền đạt kiến thức cho các em, được tự hào vì được làm nghề giáo tất cả là nhờ một câu nói, một châm ngôn sống mà thầy Hoàng Văn Thống đã dạy cho cô. Ngày cô là học sinh lớp 12, trường Hoằng Hóa II còn hoang sơ lắm, những lớp học chỉ là những lán, những nhà xập xệ. Các cô phải chọn những tảng đá phẳng để thay cho bàn học. Những khó khăn của thời bấy giờ đôi lúc đã làm nhụt chí, nản lòng những cô cậu học sinh như cô. Nhưng, giữa những lúc khó khăn ấy, dù được rất nhiều trường ở thành phố mời về giảng dạy trong điều kiện tốt hơn nhưng thầy Thống vẫn gắn bó với Hoằng Hóa II. Đơn giản vì thầy thương lắm những cô cậu học trò có khả năng nhưng lại bị cái đói, cái nghèo kìm hãm! Khó khăn là vậy, thầy vẫn đứng lớp, vẫn giảng dạy nhiệt tình và nói với các cô rằng: “Các em đừng cho rằng học là để trở thành ông nọ hay bà kia mà hãy nhớ rằng, học là để mai đây khi bước vào đời, các em không phải trở thành người vô dụng.”. Kể từ giây phút đó, cô đã lấy câu nói của thầy để làm quan niệm sống cho bản thân. Và cô hi vọng các em cũng sẽ lấy đó làm mục tiêu phấn đấu của mình.”. Câu chuyện của cô kết thúc nhưng đọng lại trong tôi rất nhiều suy nghĩ. Bấy giờ, tôi đã tự hứa với mình rằng sẽ lấy thầy làm tấm gương để bản thân không ngừng phấn đấu.
Rồi thời gian cứ thế trôi qua, ngày ngày, khi đạp xe qua nhà thầy để đến trường tôi vẫn thấy dáng thầy dắt xe ra cổng. Xuân, hạ rồi thu, đông… Dường như cuộc sống của thầy đã dành hết cho công việc dạy học. Bố tôi vẫn luôn nhắc nhớ một câu nói của thầy trong ngày hội khuyến học của làng tôi. Thầy nói: “Đầu tư cho việc học là đầu tư có lãi nhất”. Câu nói của thầy đã khiến nhiều bậc phụ huynh trong làng tôi chú trọng hơn đến việc học của con cái. Với thầy, học là con đường ngắn nhất để dẫn đến thành công. Vì vậy, thầy luôn nỗ lực hết sức để hoàn thành trách nhiệm với công việc của mình. Mỗi khóa học sinh ra trường là kết quả của những tháng ngày làm việc không mệt mỏi của thầy. Mỗi dịp lễ tết, tôi vẫn thường hỏi bố: “Sao nhà thầy Thống nhiều khách vậy bố?”. Bố nói với tôi rằng đó đều là học sinh cũ của thầy. Tuy không được học với thầy một lần nào nhưng hẳn thầy phải là một người thầy đáng kính trọng biết bao thì mới khiến bao lứa học sinh ra trường đều muốn tìm về tri ân người thầy giao cũ.
Nhưng, ngày tôi lên lớp 9, tôi được biết tin thầy đã về hưu. Tôi có đôi chút băn khoăn. Tại sao thầy lại về hưu sớm vậy? Ngày ngày lại trôi qua, mỗi lúc đi học, tôi không còn thấy bóng dáng thầy dắt xe ra cổng nữa mà thay vào đó là bóng dáng thầy tôi lặng lẽ quét dọn con đường trước ngõ nhà thầy. Thấy đám học sinh chúng tôi đi qua, thầy mỉm cười hiền hậu, nhưng thẳm sâu trong đôi mắt thầy có một nỗi buồn khó tả… Nhưng rồi, những vô tư của tuổi niên thiếu khiến tôi không thể hiểu được nỗi buồn đó là gì. Mãi đến một ngày, khi tôi chuẩn bị thi học kì hai của lớp 9, tôi được tin thầy đổ bệnh. Thầy bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Thì ra, bấy lâu nay, nỗi buồn mà tôi không thể nào hiểu nổi ấy lại chính là điều tồi tệ này. Thì ra thầy tôi buồn vì không còn đủ sức khỏe để tiếp tục công việc dạy học của mình nữa.Vài tháng sau đó, thầy được chuyển từ bệnh viện về nhà vì dù với sự góp sức của nhiều học trò cũ cùng sự chạy chữa hết sức của gia đình nhưng bệnh tình của thầy đã không thể cứu vãn. Một tuần sau đó, thầy ra đi trong sự tiếc thương vô bờ của gia đình, người thân, bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt là biết bao thế hệ học sinh của thầy. Thầy ra đi nhưng những câu chuyện về thầy, về sự hi sinh cao cả của thầy vẫn mãi còn đó. Một ngày sau đám tang của thầy, bác tôi kể: “Ngày trước, chị Nhung đi học cấp ba, bác không có tiền cho chị đóng tiền học. Cả lớp đóng hết, còn mình chị, chị không biết làm sao nên đứng khóc ngoài cửa lớp. Thầy Thống đi qua, biết chuyện liền lấy tiền lương của mình để cho chị Nhung đóng tiền học. Mãi sau này bác mới có tiền trả cho thầy nhưng thầy nhất quyết không chịu lấy. Chẳng hiểu sao những người tốt như thầy lại phải ra đi sớm như vậy…?” Không hiểu sao, nghe bác kể xong, nước mắt tôi lại không thể cầm được.
Ngày tôi đỗ vào lớp 10 trường Trung học phổ thông Hoằng Hóa II, tôi tự hào lắm, nhưng tự hào hơn cả là khi những thầy cô trong trường vẫn luôn nhắc đến thầy Thống – người thầy đáng kính của tôi – như một tấm gương đầy tâm huyết với nghề. Giờ đây, tôi đã là học sinh lớp 11, chỉ một năm nữa thôi, tôi sẽ phải xa trường. Chắc hẳn, sẽ có nhiều điều để tiếc nhớ. Nhớ trường, nhớ lớp, nhớ bạn bè, nhớ thầy cô. Nhưng có một điều đặc biệt sẽ vừa khiến tôi tiếc nhớ vừa khiến tôi tự hào đó là một Hoằng Hóa II trong tôi với biết bao thầy cô đáng kính, giàu đức hi sinh và sống cả đời mình vì học sinh như thầy Thống!