Thời áo trắng là những khoảng thời gian đặt biệt đối với mỗi người. Đó là những tháng ngày cấp sách đến trường chỉ có một lần trong đời. Mọi người luôn nói như vậy vì muốn lưu giữ những kỷ niệm đẹp đẽ đó. Nhưng bản thân tôi lại không muốn sống quãng thời gian học sinh theo cách đó… Tôi sống thờ ơ, không quan tâm, tiếp xúc nhiều với người khác, tự cô lập bản thân, không bao giờ cố gắn và muốn biến mất khỏi cái cuộc sống vô vị này… Sống như thế nên đầu tôi lúc nào cũng trống rỗng…
Giờ đây, ngồi tua lại những kí ức của tôi vào cái ngày “tươi đẹp” đó, hầu như tấc cả đều bị nhoè đi, không rõ ràng mà đầy những khoảng phim trống…Nhưng có một đoạn phim có vẻ đầy đủ và khác lạ khiến tôi tò mò. Dần ghép lại những mãnh vỡ rải rác trong đầu, hình ảnh một người đàn ông với mái tóc điểm bạc cùng nụ cười ấm áp…”Là ai? Thật thân thuộc!”… Tôi biết người đó, đó là người thầy đầu tiên và cũng là người thầy cuối cùng trong quãng đời học sinh mà đã làm tôi biết thế nào là thú vị.
Người thầy đã già vì năm tháng lo lắng nhọc nhằn, những nếp nhăn rõ ràng đã hằng lên vần trán và khuôn mặt ấy. Cái dáng người có vẻ hơi gầy, không cao, cũng không thấp, luôn mang nụ cười trên môi rồi truyền niềm vui sang những người mà thầy gặp, thầy là người đẹp lão nhất trường năm ấy, cái vẻ đẹp hiền từ, bao dung thật yên bình.
Tới đây mảnh ký ức bị ngắt đoạn, vội đưa tay nhanh chạm lấy một hình ảnh phía xa. Tôi dường như thấy được màu đỏ của hoa phượng, màu xanh của những lá me tây đang rào rạc theo làng gió, âm vang những tiếng ve rã rít. Đâu trong tiếng ve ấy, càng ngày càng rõ, tôi nghe được những tiếng cười nói vui của lũ bạn cũ đang hồn nhiên buông chuyện trên những chiếc xe đạp. Men theo lối mòn nhỏ với những hàng cây dại râm mát, những chú chó đứng trong song cửa sủa vọng ra ngoài vì bị lũ con trai chọc phá. Rẽ vào một ngôi nhà, một giọng nói trầm ấm đang vang lên trong một gian phòng nhỏ cạnh bên. Căn phòng không có cửa, chỉ có những chiếc bàn ghế gỗ cũ đầy những nét vẽ nghịch ngợm của những học trò trước được xếp ngay ngắn thành 3 dãy. Chiếc bản đen gắn ngang với chiếc bản dạ chiếm hết cả bức tường nhỏ ấy. Dưới cái bản, trong một góc nhỏ có cái bàn và cái kệ gỗ lụp xụp đựng đầy những sách vở, tài liệu như đang quá tải muốn rớt cả xuống. Thầy đứng đó giảng bài đang xen những câu chuyện cười khiến cả lớp rộ lên thích thú. Cách dạy của thầy không như những cô thầy khác, không nặng lời trách mắng, không dùng roi trách phạt, thầy luôn cười và nhẹ nhàng với học sinh của mình, thầy tận tình và quan tâm chúng tôi. Có những lúc thầy tức giận cả lớp có một khoảng lặng lạ thường nhưng không hiểu sao nhìn thầy la xong cả lớp lại cười vui, thầy trò lại quay lại với bài học. Có những lúc tôi lại ngồi tạo ra những công thức kỳ lạ, thầy liền cười rồ trêu tôi rồi nhẹ nhàng xoa đầu tôi. Thầy là người đầu tiên không la tôi khi tôi tự làm theo những gì mình nghĩ. Thầy cho tôi tự do tạo ra những cách mới dù đúng hay sai thầy vẫn cười và chỉ dẫn tôi. Thầy cho tôi một niềm tin, thấy được sự thú vị và thắp lên cho tôi ngọn lửa của toán học… Khoảng thời gian đó, tôi thấy được bản thân tôi đã cười.
Tôi biết thầy năm đầu tôi vào lớp 6, mẹ hay cho tôi học hè ở nhà thầy. Những lần đến học vào sáng sớm, thầy thường đi uống cafe chưa về, chúng tôi lại tíu tít nói chuyện cùng cô. Cô cũng là cô giáo dạy ngữ văn tại trường tôi nhưng nay đã về hưu, thật tiếc vì tôi rất thích nghe những bài giãn của cô. Nghĩ đến đây tôi chợt nhận ra, một ngày nào đó thầy cũng sẽ về hưu, không còn ngày ngày lên lớp chỉ dạy, dẫn dắt chúng tôi được nữa. Tôi sẽ không còn được nghe thấy những bài giảng đầy thú vị, không được nhìn thấy cái dáng vẽ đó, cái nụ cười của thầy dành cho những đứa học trò nhỏ, cũng những cái nhíu mày với ánh mắt trìu mến hiền từ ấy nữa… Vì thế có lẽ đây là những hồi ức cuối cùng về những tháng ngày được thầy chỉ dạy.
4 năm trung học, tôi chỉ học vỏn vẹn 2 năm rưỡi, chẳng có bao kỷ niệm đẹp đáng nhớ ở ngôi trường ấy. Nhưng người ta nói đúng, hình bóng thầy cô dù ra sao cũng không quên được. Công lao đó, thật sự tôi chẳng biết dùng từ gì để diễn tả, thôi đành mượn từ “vĩ đại” của ông cha xưa để nói. Thầy không chỉ là người lái đò đưa tôi đi trên con đường tri thức mà cả chặng đường đó thầy bỏ ra cả tâm huyết, cả sức lực để bảo vệ đứa học trò bé bỏng khỏi những cạm bẫy nguy hiểm. Đến giờ đây, khi chú chim non đã đủ lông đủ cánh bay đi chỉ còn cái tổ ở lại vẫn mỏi mòn dõi theo những cánh chim. Chờ đợi một lứa chim non khác chào đời.